Luận Văn Vấn Đề Kế Thừa Và Phát Huy Bản Sắc Văn Hoá Dân Tộc Mông Ở Tỉnh Hà Giang Hiện Nay

ái mới trong quá trình phát triển của sự vật: cái mới tuy phủ định cái cũ nhưng là một sự phủ định có kế thừa. Cụ thể hơn, kế thừa chính là mối liên hệ giữa các giai đoạn hay giữa các cấp độ khác nhau trong sự phát triển của sự vật. Sự kế thừa biểu hiện ở chỗ, một hay nhiều yếu tố của sự vật được bảo tồn khi sự vật chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác. Kế thừa là nhân tố bên trong của sự phát triển. Không thể nói đến sự phát triển mà tước bỏ đi tính kế thừa, cũng không thể nói đến kế thừa mà tách rời khỏi sự phát triển. Kế thừa là sự bảo tồn những đặc điểm, đặc tính của một sự vật và hiện tượng cũ trong quá trình phát triển. Còn phát triển không chỉ là sự bảo tồn mà còn là sự mở rộng, bổ sung, hoàn thiện và nâng cao về chất những đặc điểm, đặc tính vốn có trong sự vật và hiện tượng. Như vậy, “để phát triển được bao giờ cũng cần có sự kế thừa, tức là bảo tồn, giữ lại những đặc điểm, đặc tính của đối tượng để trên cơ sở đó mở rộng, nâng cao trình độ, còn phát triển chính là sự kế thừa tốt nhất, tích cực nhất” [20, tr.35]. Mặt khác, kế thừa phải luôn gắn liền với lọc bỏ và đổi mới. Ngay cả đối với nhân tố tích cực của cái bị phủ định được giữ lại, nó vẫn được duy trì dưới dạng lọc bỏ, chứ không phải bê nguyên xi, không phê phán, không cải tạo và không phải lắp ghép một cách máy móc cái cũ vào cái mới. Nếu kế thừa mà không gắn với đổi mới và lọc bỏ thì sự kế thừa đó không thể làm xuất hiện cái mới tiến bộ hơn, hoàn thiện hơn cái cũ mà cùng lắm chỉ lặp lại cái cũ một cách phiến diện hơn. Trong tự nhiên, tính kế thừa được biểu hiện, chẳng hạn như những nhân tố vô cơ được giữ lại khi chuyển sang giới tự nhiên hữu cơ. Trong sự phát triển của xã hội, tính kế thừa cũng được biểu hiện rõ nét, mà lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là một minh chứng. Trong tư duy, sự phát triển của các hình thái ý thức xã hội như khoa học, triết học, nghệ thuật, đạo đức, pháp quyền…cũng thể hiện rõ tính kế thừa trong nhận thức của con người qua các thời đại lịch sử khác nhau. Chủ nghĩa Mác đã kế thừa và cải tạo cả chủ nghĩa duy vật siêu hình lẫn phép biện chứng duy tâm để xây dựng nên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tất nhiên, học thuyết của Mác cũng không phải là tuyệt đối, bất di bất dịch, không phải là một cái gì đã xong xuôi mà nó cần không ngừng được bổ sung và phát triển trong điều kiện mới theo quan điểm kế thừa. Như vậy, qua sự phân tích ở trên, chúng ta thấy rõ rằng: kế thừa, đổi mới là một quá trình mang tính quy luật, biểu hiện đặc trưng của sự phát triển bất kể đó là sự phát triển trong tự nhiên, xã hội hay tư duy. Tuy nhiên, trong mỗi lĩnh vực cụ thể, tính kế thừa có những đặc thù riêng. Quy luật kế thừa không phải chỉ biểu hiện về mặt thời gian, không gian, mối liên hệ giữa truyền thống và hiện đại, quá khứ và tương lai mà cả trong không gian. Việc kế thừa không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia, một dân tộc. Trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay thì kế thừa còn bao hàm cả sự tiếp thu có chọn lọc, có phê phán những tinh hoa trong nền văn hóa nhân loại nhưng đồng thời phải cải biến cho phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc mình như Đảng ta khẳng định: “Tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, song phải luôn coi trọng những giá trị truyền thống và bản sắc dân tộc, quyết không được tự đánh mất mình trở thà nh bóng mờ hoặc bản sao chép của người khác” [13, tr.30]. Quá trình kế thừa những giá trị tạo nên bản sắc văn hóa của một dân tộc cũng có những đặc thù riêng của nó. Trong giai đoạn hiện nay thì việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông là vấn đề không thể thiếu. Kế thừa là một hiện tượng mang tính quy luật đối với sự phát triển nói chung. Không có một sự phát triển nào lại được bắt đầu từ con số “0”. Mọi sự phát triển luôn luôn là quá trình phủ định có kế thừa. Những yếu tố tích cực của cái cũ bao giờ cũng được giữ lại, kế thừa và phát triển trong sự ra đời của cái mới. Sự phát triển của những giá trị tạo thành bản sắc văn hóa của một dân tộc cũng không nằm ngoài quy luật đó. Bản sắc văn hóa của một dân tộc là di sản vô cùng quý giá; đó là tinh hoa, cốt lõi và là linh hồn của chính dân tộc đó. Tuy nhiên, những giá trị tạo nên bản sắc đó, không phải là bất biến và tuyệt đối như nhau trong mọi thời đại. Khi điều kiện lịch sử đã có sự thay đổi thì cần phải có sự chọn lọc, kế thừa, bổ sung và đổi mới đối với những giá trị đó. Việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc và củng cố cộng đồng các dân tộc, vì sự phát triển toàn diện cho mỗi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam (trong đó có dân tộc Mông), là phương hướng và nội dung cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đó cũng xuất phát từ quan niệm coi việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc, là vấn đề trung tâm của chính sách dân tộc về văn hóa. Văn hóa không phải là một hiện tượng siêu nhiên từ bên ngoài áp đặt và ban phát cho con người, cũng không phải do ý muốn chủ quan của con người, mà nó hình thành dựa trên nhiều những nhân tố khác nhau như kinh tế, chính trị – xã hội…Chính vì lẽ đó mà không phải bất kỳ một giá trị văn hóa nào, hay một nét văn hóa nào cũng đều phù hợp với mọi chế độ xã hội, và đều được con người chấp nhận và tiếp thu. Cũng không phải giá trị văn hóa nào cũng có thể phát huy tác dụng để thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của xã hội. Ngược lại, có những giá trị văn hóa lại làm cản trở sự phát triển vì nó đã lỗi thời, không còn phù hợp với thời kỳ mới. Thậm chí, ngay trong một giá trị văn hóa, có mặt còn là nhân tố thúc đẩy, nhưng mặt khác lại là nhân tố cản trở. Vì vậy, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, trong đó có dân tộc Mông là một việc làm đặc biệt cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Kế thừa những nét văn hóa đặc trưng của dân tộc Mông, mà những nét văn hóa đó mặc dù trải qua nhiều những thăng trầm, biến cố của lịch sử xã hội nó vẫn trường tồn, không mất đi nét độc đáo, riêng có của dân tộc Mông. Khi kế thừa bản sắc văn hóa của một dân tộc thì ta phải kế thừa nét văn hóa đặc trưng nhất, mà người ta có thể dựa vào đó để phân biệt cộng đồng tộc người với các dân tộc khác. Những đặc trưng văn hóa này không bị pha trộn, mặc dù luôn có sự giao thoa rất mạnh mẽ giữa các nền văn hóa, của các cộng đồng tộc người trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông ở Hà Giang là sự thừa hưởng, gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đã được hình thành từ rất lâu đời cùng với quá trình hình thành, phát triển của dân tộc Mông hàng ngàn năm nay. Với đặc điểm của tự nhiên và môi trường sinh tụ của dân tộc đã tạo cho văn hóa Mông nói chung, văn hóa của dân tộc Mông ở Hà Giang nói riêng. Việc kế thừa một nền văn hóa như nó vốn có đã khó, nhưng tìm những cái hay, cái tốt, cái phù hợp với giai đoạn mới và phát triển nó, làm cho nó phát huy tác dụng mà không làm mất đi bản sắc, cái cốt lõi của nền văn hóa đó là việc làm còn khó hơn nhiều. Kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mông là kế thừa những nét văn hóa có ý nghĩa tích cực thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội. Vì vậy, nói kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc Mông ở Hà Giang hiện nay thì trước hết phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của từng địa phương mà lựa chọn, để có thể đưa ra những phương hướng và giải pháp khả thi trên thực tế. Trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về phát triển văn hoá vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, khẳng định: “Chọn lọc, giữ gìn và nâng cao tinh hoa văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và của từng dân tộc; bảo tồn và phát triển ngôn ngữ và chữ viết của các dân tộc; tiếp thu những giá trị văn hoá khoa học của nhân loại” [8, tr.184]. Tiếp đó, Hội nghị lần thứ tư BCHTW (khoá VII) của Đảng đã ra Nghị quyết số 04-NĐ/HNTW về một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt: “Có chính sách toàn diện bảo vệ và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam” [70, tr.53]. Nghị quyết TW 5 (khoá VIII) về Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đã nêu lên năm quan điểm chỉ đạo cơ bản, trong đó có quan điểm quan trọng về phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số: Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam (…). Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hoá riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hoá Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của các dân tộc anh em [11, tr.57]. Để thực hiện tốt Nghị quyết TW 5 (khoá VIII) thì chúng ta cần tập trung chủ yếu vào nội dung sau: Kế thừa, phát huy những di sản văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc Mông, đồng thời đẩy mạnh giao lưu, tiếp thu các giá trị văn hoá của các dân tộc anh em. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo điều kiện để vùng Miền núi phát triển đồng đều và vững chắc, đóng góp vào việc thực hiện mục tiêu chung của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Quá trình vận động, phát triển kinh tế – xã hội trong thời kỳ CNH, HĐH sẽ tác động sâu sắc và toàn diện đến sinh hoạt văn hóa, đến bản sắc và bản lĩnh văn hóa từng dân tộc. Bản sắc dân tộc luôn mang tính lịch sử cụ thể và luôn tạo lập các giá trị mới, để thích ứng với yêu cầu phát triển chung của thời đại. Vì vậy, bản sắc văn hóa dân tộc phải được hiểu trong xu thế phát triển, và phát triển là điều kiện để giữ gìn bản sắc. Để làm được điều đó ngoài việc tạo các tiền đề phát triển kinh tế, xã hội vững chắc thì việc kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa tạo nên bản sắc văn hóa các dân tộc là một vấn đề hết sức cần thiết và có ‎ nghĩa hết sức quan trọng trong giai đoạn mới hiện nay. 1.2.2. Một số nguyên tắc cơ bản trong việc kế thừa, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam đứng trước sự tác động của cơ chế thị trường và vấn đề toàn cầu hóa đang là một xu thế khách quan, đặt ra những thách thức to lớn đối với việc giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Trong xu thế toàn cầu hóa, nếu không hội nhập khu vực và quốc tế sẽ bị cô lập, lạc hậu, không phát triển được. Nhưng nếu tiếp nhận vô điều kiện các yếu tố ngoại sinh thì sẽ dẫn đến nguy cơ tự đồng hóa, tự đánh mất bản sắc văn hóa của mình. Vì vậy chủ động hội nhập quốc tế song phải giữ gìn, kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong đó có dân tộc Mông. Trong quá trình kế thừa, phát huy cần thực hiện một số nguyên tắc sau: – Thứ nhất, kế thừa, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc phải có chọn lọc, phê phán. Kế thừa là một hiện tượng mang tính quy luật đối với sự phát triển nói chung. Mọi sự vật phát triển luôn luôn là quá trình phủ định có kế thừa. Những yếu tố tích cực của cái cũ được giữ lại và phát triển trong sự ra đời cái mới. Trong văn hóa người Mông chúng ta cần kế thừa yếu tố đặc trưng của dân tộc mình như: Văn hóa vật chất (nhà cửa, trang phục, đồ dùng sinh hoạt, văn hóa ẩm thực); văn hóa tinh thần. Những nét văn hóa chúng ta cần kế thừa như: chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; trai gái tự do tìm hiểu bạn đời họ thường dùng tiếng khèn, hát đối đáp, hội ném pao để tỏ tình…hay nét riêng trong cách trang trí nhà ở như: trong nhà bao giờ cũng có gác để cất giữ đồ đạc, lương thực, thực phẩm; cách chọn đất làm nhà, hình ảnh nhà trình tường; trang phục của người Mông hoàn toàn khác các dân tộc khác về màu sắc, hoa văn, đường nét. Còn trong đồ dùng sinh hoạt cũng như trong ăn uống của người Mông rất giản đơn nhưng lại thể hiện văn hóa riêng của dân tộc mình nhất là món “thắng cố”. Ngày nay, món này không thể thiếu trong các phiên chợ vùng cao. Ngoài ra trong văn hóa ứng xử; văn hóa tinh thần của người Mông cũng có những nét riêng. Đó là văn hóa truyền thống riêng có của người Mông, mặc dù trong giai đoạn hiện nay nền kinh tế thị trường đã tràn vào các “giao” của người Mông, nhưng người Mông ở Hà Giang về cơ bản vẫn còn giữ được nét văn hóa của mình. Bên cạnh những giá trị bản sắc văn hóa làm phong phú cho nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, trong văn hóa truyền thống dân tộc Mông cũng có một số điểm hạn chế. Đó là tính biệt lập, khép kín ít mở mang giao lưu; tính tự ty, cục bộ dòng họ, ý thức Quốc gia chưa cao, dễ bị kẻ định lợi dụng tâm lý dân tộc kích động tính tự trị, gây mâu thuẫn dân tộc; Quá trình khai thác tự nhiên thiếu kế hoạch, đã dẫn tới đốt phá rừng, di canh, di cư. Đặc biệt, hiện nay hiện tượng di cư tự do, truyền đạo trái phép đã làm giảm đi vẻ đẹp của một dân tộc có quá trình lịch sử lâu đời, với một kho tàng văn hóa đầy bản sắc. – Thứ hai, kế thừa, phát huy những di sản văn hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc Mông, đồng thời đẩy mạnh giao lưu, tiếp thu các giá trị văn hoá của các dân tộc anh em. Văn hoá là dòng chảy xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai của một dân tộc. Không có sự thay thế văn hoá mà chỉ có sự kế thừa, chuyển đổi, thích nghi… Kế thừa là một trong những tính quy luật của sự phát triển văn hoá, kế thừa là tất yếu khách quan. Văn hoá dân tộc Mông nếu không dựa vào di sản văn hoá truyền thống, không bám rễ vào văn hoá truyền thống thì không thể phát triển. Văn hoá truyền thống dân tộc Mông là sản phẩm của lịch sử và mang tính lịch sử. Có những yếu tố văn hoá truyền thống phù hợp với xã hội hiện nay, nhưng cũng có những yếu tố lỗi thời, lạc hậu so với yêu cầu cuộc sống hiện hành. Vì vậy, không quan niệm đã kế thừa là kế thừa mọi yếu tố của truyền thống mà là kế thừa có chọn lọc. Tiêu chí (nguyên tắc) của sự chọn lọc đó là các yếu tố di sản văn hoá “có khả năng thích ứng và phù hợp với xã hội mới và con người mới”, nói cụ thể là nó phù hợp với tính chất tiên tiến đậm đà bàn sắc dân tộc của nền văn hoá mới mà chúng ta xây dựng. Đó là những giá trị thẩm mỹ, lịch sử, đạo đức và nhân văn có tính dân tộc và tiến bộ. Văn hoá truyền thống dân tộc Mông có đặc trưng là tổng thể nguyên hợp. Do đó, khi kế thừa và phát huy phải có chọn lọc những cái tinh tuý của văn hoá mỗi yếu tố của văn hoá đều gắn liền với một sự kiện nhất định như: lễ thờ cúng thổ thần gắn liền với vấn đề bàn bạc quy ước của “giao” (bản) trong buổi “Nào xồng”; lễ cúng tổ tiên, cùng các vị thần gắn liền với phần hội “Gầu tào”. Hoạt động nghệ thuật chưa tách khỏi hoạt động tín ngưỡng. Tín ngưỡng còn tạo ra không gian thiêng, thời gian thiêng trong lễ hội, củng cố ý thức cộng đồng của người Mông (phản ánh trong lễ gọi hồn đặt tên, lễ cầu sức khoẻ, lễ đuổi ma tà “Tu su”, lễ “Nào xồng”…). Tín ngưỡng gắn chặt với hoạt động văn hoá. Vì vậy cần phải tôn trọng tín ngưỡng của người Mông. Quan niệm ấu trĩ của một thời lấy lý do bài trừ mê tín dị đoan cấm tổ chức “Nào xồng”, “Gầu tào” đã dẫn đến hậu quả triệt tiêu sinh hoạt văn hoá cộng đồng đặc sắc. Đặc biệt không áp đặt quan niệm giản đơn, ấu trĩ, xoá bỏ những yếu tố cấu thành văn hoá truyền thống, cắt xén yếu tố cơ bản làm ảnh hưởng quan hệ tổng thể. Những người lãnh đạo, những người làm công tác quản lý văn hoá phải có thái độ trân trọng bảo tồn văn hoá truyền thống của dân tộc Mông, không được nhìn nhận và hành động đối với văn hoá Mông qua lăng kính của dân tộc mình, chưa coi trọng những yếu tố độc đáo, giàu bản sắc văn hoá Mông. Chỉ nhìn và quản lý văn hoá dân tộc Mông với con mắt của người hiện đại với lăng kính của người Việt (Kinh) chắc chắc sẽ gây ra những hậu quả tiêu cực cho văn hoá dân tộc Mông. – Thứ ba, kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mông là một bộ phận trong chủ trương phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Văn hoá là dòng chảy xuyên suốt quá khứ, hiện tại và tương lai của một dân tộc. Không có sự thay thế văn hoá mà chỉ có sự kế thừa, chuyển đổi, thích nghi…Kế thừa là một trong những tính quy luật của sự phát triển văn hoá, kế thừa là tất yếu khách quan. Văn hoá dân tộc Mông nếu không dựa vào di sản văn hoá truyền thống, không bám rễ vào văn hoá truyền thống thì không thể phát triển. Kế thừa di sản văn hoá dân tộc phải gắn liền với vấn đề nâng cao phát triển văn hoá. Văn hoá truyền thống Mông ra đời trong xã hội nông nghiệp, quan hệ cộng đồng được đề cao. Ngày nay, trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiếp xúc với các yếu tố văn hoá mới đòi hỏi nền văn hoá Mông phải được nâng cao theo hướng hiện đại hoá nhưng vẫn phải giữ bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Kế thừa di sản văn hoá dân tộc phải gắn liền với vấn đề nâng cao phát triển văn hoá. Văn hoá truyền thống Mông ra đời trong xã hội nông nghiệp, quan hệ cộng đồng được đề cao. Ngày nay trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tiếp xúc với các yếu tố văn hoá mới đòi hỏi nền văn hoá Mông phải được nâng cao theo hướng hiện đại hoá nhưng vẫn giữ bản sắc dân tộc. Quá trình giao lưu văn hoá, người Việt với cư dân đông đại diện cho văn hoá quốc gia có vai trò rất quan trọng. Người Việt, văn hoá Việt thực sự là cầu nối văn hoá Mông tiếp xúc với các giá trị văn hoá hiện đại. Văn hoá mới, văn hoá hiện đại, văn hoá của xã hội công nghiệp thông qua người Việt sẽ đến với vùng người Mông. Tuy nhiên, trong quá trình giao lưu văn hoá cần tránh cả hai khuynh hướng. Khuynh hướng thứ nhất là áp đặt văn hoá mới, áp đặt văn hoá người Việt đến vùng người Mông. Khuynh hướng thứ hai là đóng kín không gian, môi trường giao tiếp, chối bỏ giao tiếp. Cả hai khuynh hướng này đều kìm hãm sự phát triển văn hoá dân tộc Mông. Trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH. Tạo điều kiện cho đồng bào Mông luôn kế thừa, phát huy được truyền thống văn hoá của mình. Chương 2 Vấn đề kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc mông ở hà giang hiện nay – thực trạng và giải pháp 2.1. thực trạng của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc mông ở hà giang hiện nay 2.1.1. Thực trạng của việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Mông ở Hà Giang hiện nay Dân tộc Mông chiếm tỷ lệ dân cư cao nhất trong tổng số các thành phần dân tộc của tỉnh Hà Giang – vùng cực bắc của Tổ quốc. Địa bàn cư trú của người Mông ở trên sườn núi cao, có độ dốc lớn, diện tích canh tác rất hạn hẹp. Nhưng đây là dân tộc có nền văn hoá dân gian rất độc đáo, có bề dày lịch sử trên dưới 300 năm từ khi Trung quốc sang định cư ở miền Bắc Việt Nam. Tính chất văn hoá biểu lộ ở cá tính dân tộc như khéo léo, dễ thích ứng, tự trọng, dễ tin người khác, nhận thức chủ yếu bằng trực giác cụ thể…; còn thể hiện ở phong tục, tập quán, văn hoá dân gian, văn hoá hiện đại, ngôn ngữ và nhiều lĩnh vực khác nữa. Tuy nhiên những giá trị làm nên bản sắc đó, không phải là bất biến và tuyệt đối như nhau trong mọi thời đại. Khi điều kiện lịch sử thay đổi thì cần phải có sự kế thừa, phát huy những giá trị đó. Văn hóa truyền thống của dân tộc Mông Hà Giang rất đa dạng, thể hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội như: kiến trúc nhà ở; dụng cụ sinh hoạt vật chất, tinh thần; thẩm mỹ y phục và nếp sống văn hóa gia đình, xã hội. Nó là những bộ phận hữu cơ tạo nên mắt xích trong tính cách, phong thái và diện mạo của cộng đồng dân tộc Mông ở vùng cực bắc. Chẳng hạn, qua một vùng cực bắc Hà Giang, ta có thể nhận biết ngay bản nào là bản có người Mông sinh sống, đó là những ngôi nhà trình tường ở trên các sườn núi cao, giao thông đi lại khó khăn, canh tác chủ yếu dựa vào rừng núi dẫn đến việc chặt phá rừng làm nương dẫy bừa bãi, đã làm cho cân bằng hệ sinh thái đứng trước nguy cơ bị phá vỡ một cách nghiêm trọng như lũ lụt, hạn hán…Trước tình hình đó, ít nhiều họ đã nhận thức được tác hại của tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản một cách tuỳ tiện. Trong những năm gần đây, tình trạng chặt phá rừng đã được ngăn chặn song chưa triệt để, thêm đó là trình độ dân trí, văn hoá còn hạn chế nên ý thức của người dân chưa cao. Chưa có kiến thức trồng rừng và bảo vệ rừng, nhất là từ năm 2005 trở lại đây nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của tỉnh cả về vật chất + tinh thần thì đời sống của người Mông đã khá hơn nhiều, đã có nhiều sản phẩm làm ra mang lại giá trị kinh tế cao, họ đã phần nào nhận thấy tác hại của việc đốt rừng làm nương dẫy. Như vậy, có thể khẳng định văn hoá dân tộc Mông tuy không tách biệt với các cộng đồng dân tộc khác trên địa bàn sinh sống. Song vẫn nổi lên những nét độc đáo của dân tộc mình, đó phải chăng cũng là một sắc thái văn hóa của họ. Vì vậy, kế thừa, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, trong đó có dân tộc Mông là một việc đặc biệt cần thiết trong nền kinh tế thị trường hiện nay và được thể hiện trên các lĩnh vực sau: – Về văn hóa vật chất Một trong biểu hiện của bản sắc văn hóa dân tộc Mông ở Hà Giang đó là kiến trúc ngôi nhà. Nhà của người Mông có đặc sắc riêng so với các dân tộc khác đó là nhà trình tường bằng đất, nhà có 3 gian và 2 cửa. Trong nhà bao giờ cũng có sàn gác để cất giữ đồ đạc, lương thực, thực phẩm, xung quanh ngôi nhà xếp đá làm hàng rào che chắn. Các ngôi nhà không được làm đính sát vào nhau kể cả anh em ruột. Hiện nay do cơ chế thị trường tràn vào khắp mọi vùng, mọi thôn bản nó đã làm vắng bóng những ngôi nhà trình tường, và thay thế vào đó là những mẫu kiến trúc mới, những ngôi nhà được xây bằng gạch bi (loại gạch làm bằng bột đá), lợp bằng tấm lợp…ưu điểm của kiến trúc nhà mới này là chắc chắn, không tốn thời gian nhiều. Mặt khác, có điểm rất yếu là đã xoá mất hẳn dáng vẻ hoàn mỹ của nếp nhà vốn mang trong nó bản sắc văn hoá cộng đồng tộc người. Giờ đây, vẻ đẹp của ngôi nhà trình tường nó mát mẻ về mùa hè và ấm áp của mùa đông hiện chỉ còn lại rải rác ở các bản người Mông, đó là những ngôi nhà từ những năm 70, 80 của thế kỷ trước và nó đã làm cho kiến trúc truyền thống trong ngôi nhà giảm đi rất nhiều. Nếu như cách thức làm nhà của người Mông tương đối thống nhất, thì bộ trang phục của truyền của họ lại muôn hình, muôn vẻ, nhất là bộ trang phục của nữ giới với chất liệu vải lanh mềm mại, đường nét hoa văn óng ánh. Trước đây đến bản người Mông sinh sống thì đều bắt gặp hình ảnh người phụ nữ Mông ngồi dệt vải, thêu thùa, bản người Mông trồng lanh lấy sợi thì giờ đây vắng bóng trong các gia đình. Nay rất ít các thiếu nữ còn biết dệt vải, chỉ còn lại ở những người trung tuổi, còn giới trẻ thì hầu như họ ngại làm, thậm trí không biết làm. Hoặc nếu dệt vải thì sử dụng các loại sợi công nghiệp mua sẵn, vì thế trang phục của người Mông đã có sự thay đổi lớn, mà sự thay đổi đó một mặt là do chất lượng cuộc sống, do nền kinh tế thị trường. Mặt khác, cũng không ít những truyền thống, sắc thái riêng bị mai một. Những cán bộ, công chức người Mông, những bản làng Mông gần thị trấn, thị xã, lớp trẻ hiện nay là con em cán bộ người Mông thì hầu như không còn mặc trang phục của dân tộc mình nữa, hoặc có chăng chỉ còn một số người mặc trong những ngày lễ, hội. Trang phục của người Mông chỉ còn lại ở vùng sâu, vùng xa. Nguyên nhân của hiện tượng bỏ dần trang phục là do sự lan tràn phổ biến của đồ may mặc sẵn, bên cạnh đó còn có nguyên nhân khác là do tâm lý của một số người lại cảm thấy xấu hổ và mặc cảm vì mình là người dân tộc, nên họ từ bỏ trang phục truyền thống (nhất là giới trẻ), thêm vào đó những bản người Mông ở Hà Giang lại gần các cửa khẩu rất thuận lợi cho việc giao thương. Hơn nữa, đồ trang phục của Trung quốc mang bán tràn lan phù hợp với thị hiếu của người dân. Như vậy, thì sự thất thoát, mai một văn hóa truyền thống ngày càng mất dần đi. Đồ dùng sinh hoạt của người Mông ở Hà Giang nhìn chung rất đơn giản, trong đó chiếc quẩy tấu và con dao quắm là một trong những vật dụng độc đáo nhất, mặc dù kinh tế thị trường tràn vào nhưng người Mông hiện nay họ vẫn lưu giữ được nét truyền thống của dân tộc mình. Tuy nhiên, còn các dụng cụ khác như muôi, thìa, chậu…làm bằng gỗ thì chỉ còn lại rải rác ở một số gia đình có người già, còn các gia đình trẻ của người Mông hiện nay hầu như không còn. Những đồ dùng này có ưu điểm là người dân tự làm bằng những vật liệu sẵn có và thể hiện sự khéo léo, tỉ mỉ, cẩn thận. Nhưng yếu điểm là mất thời gian, giá thành rẻ, vì thế giờ đây thay vào đó là những dụng cụ của ngành công nghiệp, tất cả cái đó nó làm cho nét đẹp truyền thống, đặc trưng riêng có của người Mông bị giảm bớt đi rất nhiều. Ăn uống không chỉ đáp ứng nhu cầu sinh tồn của con người mà còn chứa đựng những thói quen, tập tục, khẩu vị, làm nên sắc thái độc đáo của mỗi dân tộc mình. Do sản xuất phát triển, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nên cuộc sống của người Mông ngày càng được cải thiện rõ rệt. Nếu trước đây người Mông ở Hà Giang món ăn chính của họ vẫn là bột ngô (mó của) còn gọi là mẻn mén, là ngô say ra rồi đồ lên ăn thay gạo thì giờ thay vào đó họ đã dùng gạo để ăn, chỉ còn lại một số ít hộ gia đình là vẫn ăn mẻn mén. Một “đặc sản” không thể thiếu đó là món thắng cố, đó là món gồm cả thịt, xương, lòng… của bò, dê, trâu cộng với các loại gia vị gừng, ớt, thảo quả… ninh nhừ. Thì giờ đây món thắng cố này vẫn còn tồn tại ở các phiên chợ vùng cao và trong các dịp lễ tết của người Mông. Văn hóa vật chất hiện tại thể hiện chủ yếu ở đời

Cách Tăng Cân Dân Gian Với Thảo Dược Tự Nhiên

Xã hội càng hiện đại thì nhu cầu con người càng tăng cao, không chỉ ăn ngon mặc đẹp, mà “nhất dáng nhì da” cũng là yếu tố quan trọng để tạo nên sự cuốn hút, thành công của con người. Tuy nhiên, không phải ai cũng có 1 vóc dáng chuẩn, đặc biệt là những người muốn tăng cân tăng mãi mà không được dù cho đã dùng rất nhiều biện pháp khác nhau nhưng cân nặng vẫn không được cải thiện, vẫn gầy gò ốm o như “cò hương”.

Chính vì vậy mà trong bài viết này, chúng tôi mời bạn khám phá những cách tăng cân mà dân gian xưa đã dùng cho đến thời kì hiện đại sẽ có khác gì nhau.

Nhu cầu làm đẹp, cải thiện vóc dáng là “ma lực” thúc đẩy con người không ngừng tìm kiếm vẻ đẹp toàn diện, và dĩ nhiên không ai lại cứ muốn mình cứ mãi ốm “tong teo, trơ xương”, vậy nguyên nhân của chứng ăn mãi mà không tăng cân là gì ?

Trong đó để đạt được cân nặng như ý, người tăng cân đã “cật lực” tìm đến rất nhiều giải pháp như: kìm hãm chế độ ăn uống, dùng thuốc uống, tập Yoga, tập Gym…

Ngoài các phương pháp tác động “ngoại lực” bên ngoài bằng các bài tập thể dục thể thao, đi Spa phẫu thuật thẩm mỹ, người ta còn tìm đến các liệu pháp chữa trị “nội lực” bên trong cơ thể nhẹ nhàng, an toàn khác là dùng thuốc Đông Y kết hợp. Tuy nhiên giữa “muôn ngàn” phương pháp thì đâu mới là phương pháp phù hợp với thể trạng từng người?

Cỏ Mực là cây thuộc họ Cúc Asteraceae, được người dân quen gọi là cỏ Nhọ Nồi, Bạch Hoa Thảo, Thùy Hạn Liên… Loại cây này cực kỳ phổ biến và rất dễ tìm kiếm vì chúng mọc hoang khắp nơi.

Theo Đông Y miêu tả, cây Cỏ Mực có tính hàn, vị chua, hơi chát nhưng không chứa độc tố. Điểm đặc biệt ở cây, là khi bạn vò nát sẽ thấy có dịch màu đen chảy ra như mực.

Ngoài ra, Cỏ Mực còn mang nhiệm vụ cầm máu, làm tóc đen mượt, điều trị các bệnh xuất huyết nội tạng như chảy máu dạ dày, tiểu tiện ra máu, lao lực quá sức, chữa suy nhược, rong kinh ở phụ nữ, mẩn ngứa….vv

–Sau khi hái tươi về rửa sạch phơi khô, ta dùng:

+Cỏ Mực, Mần Trầu mỗi vị 100g, gừng khô 50g, 3 chén nước dừa tươi.

+Chặt nhỏ rồi hạ thổ sao vàng, lần lượt cho 3 chén nước dừa vào, nấu còn 8 phân, uống ngày 2 lần.

Cam Thảo là loại thảo dược đã xuất hiện từ lâu đời tại Trung Quốc còn được gọi với những tên khác nhau như :Sinh Cam Thảo, Bắc Cam Thảo, Quốc Lão.

Theo Đông Y ghi nhận, với hơn 300 hợp chất quý khác nhau, Cam Thảo không chỉ có vị ngọt tự nhiên, thanh lọc làm đẹp da, mà còn không hề chứa độc tố.

Tuy nhiên theo ( FDA) Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ cho hay, dù Cam Thảo mang đến nhiều lợi ích như vậy nhưng việc tiêu thụ quá nhiều có thể khiến nồng độ Kali trong cơ thể giảm xuống, gây nên các triệu chứng khác như: cao huyết áp, suy tim, nhịp tim rối loạn, xảy ra hội chứng co giật.

Cách dùng: Mỗi ngày nên dùng 4g Cam Thảo đã làm sạch, đun với nước sôi trong khoảng 15-20 phút, để ấm hoặc nguội rồi dùng dần, chỉ đơn giản vậy thôi là bạn đã có một ly Cam Thảo thơn ngon và hiệu quả tăng cân lại cực tốt. Dùng trong ngày, có thể uống thay nước trà.

Trong các vị thuốc Nam, đang trở thành cơn sốt bởi vẻ ngoài “lạ lẫm” khi dịch tiết từ cây được chẻ ra lại có màu đỏ sẫm như máu, nhưng ít ai biết, đó lại là dưỡng chất đặc trưng chỉ thiên về “Bổ máu” của cây.

Bạn có biết, một trong những bí quyết của các chị em phụ nữ núi Tây Bắc là thường xuyên hái và sơ chế cây Cỏ Máu đun nước để uống hàng ngày nhằm tăng cường sức khỏe, bổ khí huyết nên dù cuộc sống có khó khăn, vất vả mấy nhưng thể trạng lại rất tốt.

Hỗ trợ lưu thông khí huyết, chống rụng tóc, chữa đau tay chân và eo lưng gối mỏi ở người lớn tuổi.

Đối với người kén ăn, Cỏ Máu sẽ kích thích tiêu hóa, tạo cảm giác thèm ăn, từ đó giúp người bệnh nghĩ tích cực hơn, yên tâm dùng do sản phẩm không chứa độc.

Giờ đây, các bạn ” Cò Hương” sẽ yên tâm hơn nữa với bài thuốc tăng cân vừa dễ vừa an toàn sau đây:

+Phơi khô Cỏ Máu, rửa sạch bụi

+Cho vào ấm đun sắc với 1,5 lít nước, đun vừa lửa trong 15 phút.

+ Có thể thay thế nước uống hàng ngày ,thay trà, nếu bệnh nhân ăn uống kém, nên sắc cạn còn khoảng 500ml nước để sử dụng dễ dàng

Tăng cân với Wisdom Weight

Qua những những thông tin về 3 loại thảo dược quý trong vai trò giúp người bệnh tăng cân, xóa đi nỗi lo vóc dáng đẹp chỉ là “mơ ước”, chúng ta có thể thấy các nguyên liệu trên đa phần là dễ tìm, dễ thực hiện nhưng với điều kiện bạn cần phải nhẫn nại và kiên trì làm theo đúng những hướng dẫn của bác sỹ, cũng như liều lượng uống nhằm phù hợp với từng thể trạng.

Trên thị trường hiện nay, loại thuốc đang được “làm mưa làm gió” để tăng cân và đang đứng Top chính là , nhãn hiệu nhập khẩu đến từ INDONESIA do công ty Nutra Manufacturing sản xuất.

Wisdom Weight 100% nhờ vào công nghệ chiết xuất từ 100% hạt đậu nành lên men, không chứa tác dụng phụ nên an toàn cho người sử dụng.

Lý do gì mà Wisdome Weight lại Hot như vậy? Thay vì xa xưa, muốn “đập đi xây lại” vóc dáng thì bạn phải lặn lội tìm kiếm đúng các loại cây dược thảo, bảo quản phải đúng cách, nấu cũng cần phải theo liều lượng nhưng Wisdom Weight đã tiết kiệm cho bạn khá nhiều thời gian và tiền bạc khi 1 hộp sẽ có 25 viên mà dùng được cả tháng.

Wisdome Weight đã tích hợp rất nhiều dưỡng chất Vitamin, Protein, Liquid soyblecethin được tổng hợp quý giá từ các loại thảo mộc, do vậy mà Wisdom Weight mang đến công dụng chữa bệnh như:

+Giúp bồi bổ cơ thể khỏe mạnh, tăng cơ săn chắc cơ.

+ Làm cho ruột non tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng khi ăn vào cơ thể.

+ Hỗ trợ hệ thống bên trong cơ thể vận hành, hấp thụ mạnh mẽ hơn, tiêu hóa thức ăn tốt hơn.

+Mang cho người bệnh cảm giác thèm ăn, ăn ngon miệng và ăn được nhiều hơn, điều hòa giấc ngủ sâu hơn.

+Tăng cường sức đề kháng, cải thiện sức khỏe hệ tiêu hóa, giúp cơ thể đào thải độc tố, hỗ trợ đắc lực cho quá trình tăng cân.

+ Giảm thiểu quá trình oxy hóa và hình thành collagen tự nhiên cho cơ thể, tăng sự đàn hồi cho làn da, các cơ và mạch máu, giúp cơ thể trẻ trung, khỏe mạnh.

Cách Ngâm Rượu Tứn Khửn (Chí Chuôn Chua) Đúng Chuẩn Dân Tộc Mông

Tứn khửn theo tiếng Kinh có nghĩa là “dựng lên”. Đây là một trong những loại rượu thuốc phổ biến của đồng bào dân tộc Mông được truyền lại qua nhiều thế hệ. Thành phần chính của rượu tứn khửn là chí chuôn chua và rễ cây tứn khửn. Chí chuôn chua (chí chiền chùa) là một loại quả hình dạng như quả na, mọc trong một số vùng rừng núi. Kích thước quả chí chuôn chua khoảng 1 nắm tay người lớn, hình dạng có mắt như quả na (mãng cầu) ở miền xuôi. Quả chí chuôn chua có vị hơi cay khi chín, mùi thơm đặc trưng. Sau khi ăn vào thường lưu lại vị chua ngọt nơi lưỡi. Trong tự nhiên, đây là loại quả tương đối khó kiếm bởi không chỉ con người sử dụng loại quả này mà nhiều loại động vật hoang dã cũng dùng quả chí chuôn chua làm thức ăn.

Công dụng của rượu tứn khửn

Rượu tứn khửn có tác dụng:

Cải thiện tình trạng sinh lý nam, cải thiện chuyện chăn gối.

Mang lại sức khỏe dẻo dai cho nam giới.

Giúp làm giảm tình trạng xuất tinh sớm.

Giúp ăn ngủ khỏe.

Chính vì tác dụng của loại rượu này nên những năm gần đây, rượu tứn khửn được xem là “hảo tửu” được nhiều người ở miền xuôi ngược lên các vùng núi của đồng bào dân tộc để tìm kiếm và sử dụng.

Cách ngâm rượu tứn khửn

Rượu tứn khửn là một trong những loại rượu có nhiều nguyên liệu cầu kỳ, cách ngâm cũng có những phức tạp nhất định. Việc ngâm rượu tứn khửn của đồng bào dân tộc Mông thường được các già làng có kinh nghiệm đảm trách.

1.Chuẩn bị

Chí chuôn chua: là nguyên liệu chính để ngâm rượu. Giúp an thần, điều hóa khí huyết, giảm tình trạng mất ngủ, trừ phong thấp, điều hòa khí huyết.

Rễ cây tứn khửn: nguyên liệu không thể thiếu để ngâm rượu. Công dụng cải thiện đau lưng, nhức mỏi, làm mạnh gân cốt, tăng cường sinh lực.

Lan tiên: công dụng giải độc, tăng cường miễn dịch, giúp bồi bổ gân cốt.

Rễ cây sừng trâu: công dụng chính là giải độc, trị đau lưng mỏi gối, trị đau nhức xương khớp.

Dây cưu trừ ma (hay cư chừ ma): giúp tăng cường sinh lực, tăng cường ham muốn, tăng nội tiết tố, điều hòa khí huyết, cải thiện tình trạng thận yếu, tiểu đêm.

Vương bất lưu hành: còn gọi là quả trâu cổ, tác dụng cải thiện tình trạng di tinh, mộng tinh.

Các nguyên liệu trên hợp lại tạo thành một thang thuốc (khoảng 1 kg). Hiện nay nhiều nhà thuốc có cân sẵn thang thuốc này. Tuy nhiên do nhiều nguyên liệu khó kiếm nên bạn cần đặt trước một thời gian để nhà thuốc chuẩn bị nguyên liệu.

Rượu nếp trắng 8 lít. Nồng độ rượu khoảng từ 38 – 45 độ.

Đem quả chí chuôn chua (na rừng) đi rửa sạch, để ráo.

Tác các múi nhỏ của quả chí chuôn chua ra và để riêng.

Đem phơi khô phần chí chuôn chua đã chuẩn bị hoặc sấy dưới lửa nhỏ.

Cho chí chuôn chua vào trong ống tre và bịt lại cho thật kín.

Đem cả ống tre đi đun cách thủy và để qua một đêm.

Sau khi để qua đêm, bạn cho chí chuôn chua đã chuẩn bị cùng với các vị thuốc bổ khác vào bình. Đổ rượu vào ngập đầy các vị thuốc. Đậy lại cho thật kín và đem hạ thổ. Sau một năm thì mới có thể sử dụng được.

Lưu ý khi thực hiện

Khi ngâm rượu tứn khửn bạn cần chú ý một số vấn đề sau:

Chọn loại quả chí chuôn chua chín tới và thơm tự nhiên.

Nên ngâm trong bình gốm, sứ, thủy tinh là tốt nhất vì khi ngâm bình nhựa trong thời gian dài có thể sinh ra các chất hóa học không tốt cho sức khỏe.

Loại rượu chọn sử dụng nên là rượu lúa nếp nấu thủ công và không thêm phụ gia.

Cách sử dụng rượu tứn khửn

Rượu tứn khửn chữa xuất tinh sớm có thể dùng 2 lần 1 ngày. Mỗi lần bạn chỉ sử dụng 1 chén nhỏ. Dùng tốt nhất là trong bữa ăn, không nên dùng khi đói. Trong 1 ngày bạn chỉ được dùng tối đa 100 ml, không sử dụng quá liều để tránh những tác dụng phụ không mong muốn.

Bảo quản

Chú ý bảo quản nơi khô ráo, thoáng mát, tránh ánh nắng trực tiếp.

Luôn đậy nắp bình thật kín, tránh để các loại côn trùng lọt vào.

Bảo Tồn Và Phát Triển Nghề Dệt Lanh Của Người Mông Ở Hà Giang

(KDPT) – Nghề dệt vải lanh của đồng bào dân tộc Mông không chỉ có ý nghĩa bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc mình mà còn góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Nghề trồng lanh dệt vải của đồng bào dân tộc Mông tại 4 huyện cao nguyên đá (Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh và Quản Bạ) đã có từ lâu đời. Các sản phẩm từ sợi lanh được nhuộm với nhiều mầu sắc khác nhau để may quần áo, làm khăn quàng cổ, váy áo của phụ nữ, túi thổ cẩm, quần, áo của nam giới dân tộc Mông. Trang phục từ vải lanh đã gắn liền với các lễ hội và những ngày Tết, lễ, cưới hỏi…quan trọng của người Mông.

Trong những năm qua, khi cao nguyên đá Đồng Văn gia nhập mạng lưới công viên địa chất toàn cầu và tỉnh Hà Giang đẩy mạnh phát triển du lịch trên vùng cao nguyên đá thì các sản phẩm từ vải lanh như khăn, áo váy, túi xách… đã được bán rộng rãi để phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Sự độc đáo từ chất liệu vải lanh đã được các nhà thiết kế tạo thành các sản phẩm thời trang độc đáo cho các văn nghệ sĩ khi biểu diễn ở trong và ngoài nước. Bên cạnh đó, sản phẩm vải lanh còn là sự lựa chọn của các nhà hàng, khách sạn trong và ngoài nước dùng để trang trí nội thất. Vì vậy, hằng năm, các hợp tác xã dệt lanh tại 4 huyện cao nguyên đá đều có đơn đặt hàng của một số nước như Pháp, Đức…

Để bảo tồn và phát triển nghề dệt vải lanh của đồng bào dân tộc Mông tại 4 huyện cao nguyên đá Đồng Văn, tỉnh Hà Giang đã đề ra các chính sách khuyến khích như: Hỗ trợ giống và khoa học kỹ thuật cho đồng bào khi gieo trồng cây lanh; phối hợp với các nghệ nhân là phụ nữ dân tộc Mông mở các lớp sơ chế, nhuộm và dệt vải lanh cho các em gái dân tộc Mông…Vì vậy, nghề dệt vải lanh của phụ nữ dân tộc Mông tại 4 huyện cao nguyên đá không ngừng được phát triển và mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực.

Trong những năm qua, nghề dệt vải lanh của đồng bào dân tộc Mông không chỉ có ý nghĩa bảo tồn các giá trị văn hóa của dân tộc mình mà còn góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Nhận thức vai trò của nghề dệt vải lanh, chính quyền các huyện cao nguyên đá đã có nhiều chính sách khuyến khích, hỗ trợ các hợp tác xã dệt vải lanh mở rộng quy mô phát triển làng nghề; đồng thời mở rộng nghề dệt vải lanh ra các địa phương khác trên địa bàn. Bên cạnh đó, các huyện vùng cao nguyên đá xác định việc bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống, trong đó có nghề dệt vải lanh đã góp phần tạo nền tảng thúc đẩy phát triển du lịch của địa phương. Ngoài ra, các huyện vùng cao nguyên đá cũng đã xác định nghề dệt vải lanh truyền thống của đồng bào dân tộc Mông là một trong những sản phẩm chủ lực của địa phương mình.

Đồng chí Sèn Thăng Long, Phó Chủ tịch UBND huyện Quản Bạ (Hà Giang) cho biết: Trong những năm qua, để khuyến khích nghề dệt vải lanh của đồng bào dân tộc Mông, huyện Quản Bạ đã tổ chức các Lễ hội của nghề thêu, nghề dệt vải lanh để các nghệ nhân giao lưu, học hỏi kinh nghiệm. Đồng thời, qua các lễ hội cũng nhằm quảng bá các sản phẩm từ dệt lanh của các hợp tác xã trên địa bàn của huyện…”

Khi du khách đến với các làng nghề truyền thống của Hà Giang nói chung và nghề dệt vải lanh của đồng bào dân tộc Mông trên vùng cao nguyên đá nói riêng không những được tham quan nơi sản xuất, tiếp xúc với các nghệ nhân của làng nghề mà còn được trực tiếp thao tác các quy trình cũng như các công đoạn trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm.

Chị Giàng Thị Say, dân tộc Mông, Giám đốc hợp tác xã sản xuất vải lanh xã Cán Tỷ, huyện Quản Bạ cho biết: Trước kia, khi mới thành lập, các sản phẩm vải lanh của hợp tác xã cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình tiêu thụ. Nhưng nhờ có các cơ chế khuyến khích, hỗ trợ của tỉnh trong quá trình giới thiệu và quảng bá sản phẩm tại các lễ hội, các hội chợ, các khu du lịch…nên hiện nay các sản phẩm từ nghề dệt lanh của hợp tác xã đã có chỗ đứng trên thị trường. Các sản phẩm từ nghề dệt lanh của hợp tác xã đã nhận được sự quan tâm của khách tham quan và đã có mặt tại hầu hết các hội chợ trong và tỉnh. Từ đó đã tạo công ăn việc làm cho nhiều chị em phụ nữ dân tộc Mông trên địa bàn của huyện.

Theo Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam

Thuốc Tăng Cân Thảo Dược Nấm

Thuốc tăng cân thảo dược Nấm giúp bạn thay đổi cân nặng chỉ sau 15 ngày sử dụng. Tại sao lại hiệu quả như vây. Vì trong thành phần của thuốc được chiết suất 100% thảo dược quý từ thiên nhiên, không chỉ giúp bạn tăng cân nhanh hiệu quả an toàn mà còn giúp chị em phụ nữ da dẻo hồng hào hơn.

– Bạn đang thiếu cân gặp các vấn đề về cân nặng, thân hình mảnh mai làm bạn thiếu tự tin?– Bạn ăn không ngon miệng, ngủ không sâu giấc?– Bạn đã thử nhiều cách để tăng cân nhưng vẫn chưa thấy cho hiệu quả rõ rệt?

Thành phần của tăng cân nấm được chiết suất 100% quý từ thiên nhiên,không chỉ giúp bạn tăng cân nhanh hiệu quả an toàn mà còn giúp chị em phụ nữ da dẻo hồng hào hơn.

THÀNH PHẦN THUỐC TĂNG CÂN THẢO DƯỢC NẤM

Thuốc tăng cân nấm chiết xuất 100% quý bao gồm : Nhung hưu, Nhân sâm, đinh lăng, trùng thảo, tảo xoắn,… Và hơn 15 loại thảo dược bổ sung chất dinh dưỡng khác.

Phù hợp cho người, ăn nhiều nhưng không hấp thụ được dưỡng chất,gầy lâu năm, người bị suy nhược cơ thể, người già mất ngủ thường xuyên, người bệnh khó ngủ, chán ăn.

Tảo xoắn: Bổ sung cho cơ thể nhiều dưỡng chất cần thiết, giúp tăng sức đề kháng, chống đỡ bệnh nặng như: u ng thư, HIV,viêm gan, xơ gan … kích thích sự tăng nhanh các tế bào hồng cầu bạch cầu và nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể.

Nhung hươu: Là một trong những thực phẩm từ thiên nhiên có tác dụng tăng cân hiệu quả. Sở dĩ có được tác dụng này là bởi nó hội tụ nhiều thành phần quan trọng, thiết yếu cho người gầy. Nhung hươu bao gồm hơn 20 loại axit amin trong đó có nhiều nguyên tố đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của con người cả về thể chất và tinh thần. Bên cạnh đó, nhung hươu còn chứa rất nhiều hàm lượng vitamin cần thiết như B12, B6, B9.. giúp cơ thể khỏe mạnh và làm đẹp da. Một số nguyên tố, khoáng chất như sắt, kẽm, đồng…còn giúp bạn ăn ngon, ngủ tốt và phát triển chiều cao.

Đinh lăng: Trong rễ đinh lăng có chứa nhiều saponin , nhiều sinh tố B1, ngoài ra rễ còn chứa khoảng 13 loại axit amin cần thiết cho cơ thể, nhờ đó đinh lăng giúp tăng sức đề kháng cho cơ thể, rất tốt cho người gày lâu năm.

Nhân Sâm: Là thảo dược vô cùng ý nghĩa cho những người muốn tăng cân. Bởi nhâm sâm cung cấp rất nhiều chất dinh dưỡng, các nguyên tố vi lượng và khoáng chất cần thiết cho cơ thể. Sử dụng nhân sâm mỗi ngày sẽ giúp bạn ăn ngon miệng hơn, ngủ tốt hơn. Tạo cảm giác tinh thần khỏe khoắn, đầy năng lượng cho quá trình hoạt động cả ngày. Bên cạnh đó, nhân sâm còn có tác dụng kích thích hệ tiêu hóa, tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thểĐông trùng hạ thảo: có tác dụng giúp người bệnh ăn ngon miệng ngủ sâu giấc , tiêu tan mệt mỏi, tăng cường phổi, thận…

CÔNG DỤNG THUỐC TĂNG CÂN THẢO DƯỢC NẤM

➡ Kích thích thèm ăn, ăn ngon miệng ăn nhiều hơn➡ Giúp người bị gầy yếu lâu năm, suy dinh dưỡng, bệnh thiếu máu➡ Hổ trợ tăng size vòng 1 hiệu quả➡ Có tác dụng cường dương và chống liệt dương➡ Giúp bạn ngủ ngon và sâu giấc hơn➡ Các thảo dược quý sẽ giúp tăng cường hấp thụ dưỡng chất mạnh,tăng sức đề kháng cho cơ thể➡ Ngoài ra thành phần của nấm tăng cân gồm các thảo dược thiên nhiên còn giúp chị em Đẹp da, hồng hào hơn.

CÁCH DÙNG THUỐC TĂNG CÂN THẢO DƯỢC NẤM

☀ Mỗi ngày bạn pha 1 gói với 10 – 20ml nước âm ấm ☕☀ Và uống vào buổi tối sau khi ăn tối,giúp tăng cường hấp thụ dưỡng chất để đạt hiệu quả cao nhất☀ Khi bạn đạt số cân mong muốn nên duy trì thêm 1 tuần cách ngày rồi ngừng hẳn☀ Dùng được cho trẻ nhỏ và phụ nữ đang cho con bú☀ Chỉ định: Trẻ em trên 12 tuổi, người bị ốm lâu năm, suy nhược cơ thể, mất ngủ, phụ nữ sau sinh 3 tháng.☀ Chống chỉ định: Với những người dị ứng với thành phần của thuốc, trẻ em dưới 12 tuổi và phụ nữ đang cho con bú 3 tháng.

CAM KẾT THUỐC TĂNG CÂN THẢO DƯỢC NẤM

✔ An toàn 100% thiên nhiên.✔ Đảm bảo khi ngừng sử dụng không bị giảm cân.✔ Là thảo dược thiên nhiên nên Không hề tác dụng phụ.✔ Và đặc biệt Tăng cân tự nhiên không bị tích tụ mỡ tại 1 chỗ mà tăng đều cả cơ thể.

☀ Liệu trình 15 ngày 500k ☀ Liệu trình 30 ngày 950k ☀ Hiện nay có nhiều trường hợp không thuộc hệ thống của Công Ty. Những người này có thể là bán hàng giả, hàng kém chất lượng, bán phá giá sai quy định của Công Ty.

☀ Tất cả khách hàng mua từ những người này Công Ty sẽ không bảo trợ và chịu trách nhiệm nếu xảy ra vấn đề. Thân mến!

TUYỂN KHÁCH SỈ – CHI NHÁNH TOÀN QUỐC – NHIỀU ƯU ĐÃI – CHIẾT KHẤU CAO

Địa chỉ: Số 90 Văn Chương, Tôn Đức Thắng, Hà Nội